Công nghệ sinh học nông nghiệp triển vọng và thách thức

Thứ tư - 30/03/2016 00:59
1. TẠI SAO PHẢI LÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC?
Với sự gia tăng dân số thế giới từ 5,3 tỷ vào năm 1990 và được dự kiến là sẽ tăng lên đến 7 tỷ vào năm 2012 và đạt mức 8,5 tỷ vào năm 2050 (Cục điều tra dân số Mỹ, 2008), tất yếu nhu cầu về lương thực và thực phẩm cũng phải tăng theo một lượng tương ứng để đáp ứng nhu cầu tối thiểu cho số dân tăng nhanh này.
Công nghệ sinh học nông nghiệp triển vọng và thách thức
Trong số đó, nhu cầu về tinh bột và protein chiếm số lượng lớn. Nguồn tinh bột có thể thu được thông qua canh tác các loại hạt và củ như lúa, bắp, khoai… Nguồn protein chủ yếu được thu nhận từ việc chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy hải sản và một lượng nhỏ củ quả giàu protein. Để đáp ứng được nhu cầu này, việc phát triển nông nghiệp là con đường quan trọng nhất.

Để sản xuất nông nghiệp thì diện tích đất cũng đóng vai trò quan trọng đáng kể. Tuy nhiên, nghịch lý là trong khi nhu cầu tăng nhanh thì diện tích đất canh tác bình quân đầu người ngày càng giảm. Nguyên do của sự giảm diện tích này chủ yếu là dân số tăng, sự thâm canh quá mức làm thoái hóa đất và do sự mất mát tự nhiên. Bên cạnh đó, hiện tại, sản lượng nông nghiệp chủ yếu được quyết định bằng năng suất thông qua thâm canh, điều này khiến cho môi trường canh tác nhanh thoái hóa và mất cân bằng dinh dưỡng tự nhiên.

Ban đầu, phương pháp thâm canh hoàn toàn truyền thống này cũng mang lại hiểu quả đáng kể. Tuy nhiên, sau đó, hậu quả là sự thoái hóa môi trường canh tác, làm giảm diện tích canh tác và cuối cùng là làm giảm sản lượng. Mặt khác, sự thất thoát sau thu hoạch cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể khi mà các công nghệ sơ chế, bảo quản, chế biến chưa phát triển. Trong khi đó, bằng việc áp dụng các kỹ thuật công nghệ sinh học (CNSH) vào trong nông nghiệp, các vấn đề nêu trên sẽ được giải quyết dễ dàng hơn và điều này đã được khoa học chứng minh từ nhiều năm qua và được khẳng định trong các báo cáo tại FAO (2004).

Nhờ áp dụng CNSH, một số nước đang phát triển, vài nước trong số đó ngày nay còn được xem là những nền kinh tế mới nổi, đã và đang là nguồn cung cấp 34% sản lượng lương thực và thực phẩm trên thế giới. Đáng kể đến là Trung Quốc, Paraguay, Ấn Độ, Nam Phi, Brazil, Thái Lan, Argentina và Canađa. Tình từ năm 1997 đến nay, bình quân hàng năm CNSH đóng góp vào giá trị sản lượng nông nghiệp với tỷ trọng trung bình 30% và được dự kiến là sẽ còn tiếp tục tăng lên rất cao trong thời gian tới.

Các dẫn chứng trên cho thấy các kỹ thuật CNSH có vai trò quan trọng để phát triển nông nghiệp. Các tiềm năng do CNSH mang lại là rất lớn và hiện tại chúng ta vẫn chưa đạt đến giới hạn. Thực tế cũng đã cho thấy việc ứng dụng CNSH còn